Đại học ở Nhật bản phát triển qua các thời kỳ
Bốn giai đoạn phát triển của đại học Nhật bản
Bốn giai đoạn phát triển hệ thống giáo dục đại học của Nhật cũng có thể cung cấp cho chúng ta một vài bài học và kinh nghiệm đáng tham khảo. Đáng tham khảo bởi vì Nhật cũng xuất phát từ một nước nông nghiệp, và cũng kinh qua một thời gian chiến tranh khốc liệt.
Giai đoạn 1: Tây phương hóa.
Năm 1877, Đại học Tokyo được thành lập (trước đây trường này chỉ là một trường cao đẳng dạy ngoại ngữ và y học cổ truyền). Đại học Tokyo lúc đó có 4 khoa: luật khoa, khoa học, văn khoa và y khoa. Trong giai đoạn phát triển này, phần lớn giáo sư là người ngoại quốc. Trong số 36 giáo sư, có đến 23 người là giáo sư từ Anh, Pháp, Đức và Mỹ. Ngay cả những giáo sư người Nhật cũng là những người từng tốt nghiệp từ các nước vừa kể.
Trong thời gian 20 năm sau đó, có đến 400 giáo sư từ các nước phương Tây được Bộ Giáo dục Nhật mướn (hay mời) dạy tại các đại học và cao đẳng trên khắp nước Nhật. Không chỉ trong ngành giáo dục, Nhật còn mướn các chuyên gia phương Tây để làm việc và hướng dẫn trong các ngành như khai thác hầm mỏ, đường sắt, điện lực, điện tín, hãng xưởng…
Cùng lúc với sự hình thành của Đại học Tokyo, Nhật tích cực gửi sinh viên sang các nước phương Tây theo học tại các trường danh tiếng trên thế giới. Những “hạt nhân” đó sau này nắm giữ những chức vụ quan trọng trong hệ thống đại học và chính quyền.
Giai đoạn 2: Cách mạng kỹ nghệ và đại học.
Thời gian mà các đại học vương triều ra đời trùng hợp với giai đoạn cách mạng kỹ nghệ ở Nhật. Cuộc cách mạng kỹ nghệ chủ yếu xảy ra ở ngành dệt và kỹ nghệ nhẹ, và chính các ngành “nhẹ” này đã là những viên gạch lót đường để Nhật trở thành một cường quốc kỹ nghệ sau này. Các đại học vương triều có nhiệm vụ phải đào tạo các kỹ sư và khoa học gia, chuyên gia để đáp ứng nhu cầu của cuộc cách mạng kỹ nghệ. Mặc dù ý thức được rằng đại học còn phải đào tạo các nhà nghiên cứu, nhưng trong giai đoạn mà công nghệ của Nhật còn quá thô sơ, họ chủ yếu nhắm vào việc đào tạo chuyên gia lành nghề, và việc đào tạo chuyên gia nghiên cứu chỉ tập trung ở các đại học lớn như Tokyo và Kyoto. Song song với sự ra đời của các đại học vương triều, Nhật còn thành lập một số trường cao đẳng kỹ thuật (technical college). Các trường cao đẳng có nhiệm vụ giới thiệu các công nghệ của thế giới phương Tây nhưng có ứng dụng thực tế vào điều kiện phát triển ở Nhật. Đến năm 1910, Nhật đã có 17 trường cao đẳng kỹ thuật, và mỗi năm huấn luyện được hàng ngàn chuyên viên kỹ thuật.
Trong thời kỳ này, Nhật còn có một số đại học tư thục, tuy lúc đó các trường này chưa được công nhận là “đại học” mà chỉ là những “trường đặc biệt” (special schools). Mãi đến năm 1918 các trường đại học tư thục mới được chính thức công nhận là đại học. Sau này, một số trường tư thục đó trở thành những đại học danh tiếng. Chẳng hạn như Đại học Keio được thành lập năm 1868 (do gia đình của Fukuzawa Yukichi thành lập), Đại học Doshisa (của Niijima Jo lập năm 1875), Đại học Waseda (do Okuma Shigenobu lập năm 1882) đã có công đào tạo các chuyên gia kỹ thuật và quản lý cho các công ty tư nhân, và đóng góp một phần lớn vào sự nghiệp công nghiệp hóa của Nhật.
Giai đoạn 3: Hậu chiến và phát triển.
Thế chiến thứ nhất là động cơ để Nhật tiến hành một cuộc cách mạng kỹ nghệ thứ hai. Trong cuộc cách mạng này, Nhật tập trung vào kỹ nghệ nặng như đóng tàu, sản xuất sắt thép, sản xuất máy kỹ nghệ, hóa học… Trong thời gian 1915-1918, sản lượng kỹ nghệ của Nhật tăng sáu lần, và lần đầu tiên, sản lượng kỹ nghệ qua mặt sản lượng nông nghiệp, biến Nhật thành một nước công nghiệp tiên tiến.
Năm 1918 đạo luật thành lập các đại học địa phương và đại học vùng ra đời. Đạo luật còn cho phép thành lập các đại học chuyên ngành như đại học chuyên về kỹ thuật, kinh tế, nông học…
Đến năm 1930, Nhật đã có bảy đại học vương triều, với ba đại học mới là Hokkaido, Osaka và Nagoya. Các đại học vương triều mới này chuyên về khoa học và công nghệ. Trong cùng thời gian này, các đại học cũ hơn như Tokyo và Kyoto bắt đầu thành lập các viện nghiên cứu trong và ngoài đại học. Phần lớn các viện nghiên cứu tập trung vào nghiên cứu về vật lý, hóa học, công nghệ hàng không. Trong giai đoạn này, Nhật đã có một hệ thống đại học hoàn chỉnh và tạo được một nền tảng cho phát triển khoa học kỹ thuật trong tương lai.
Giai đoạn 4: Hoàn thiện.
Đến năm 1952, khi Nhật được trao quyền tự trị, tương lai của Nhật có vẻ rõ ràng hơn. Người Nhật nhận thức rõ rằng để tồn tại trên thế giới với sự hạn chế tài nguyên thiên nhiên, Nhật tùy thuộc rất lớn vào khả năng kỹ nghệ. Để phát triển kỹ nghệ, họ cần phải phát triển hệ thống giáo dục đại học đến một tầm cao hơn. Năm 1956, một tài liệu về giáo dục cao đẳng của Anh (White Paper on Technical Education) được dịch sang tiếng Nhật, và trở thành một tài liệu tham khảo quan trọng, một kim chỉ nam cho hệ thống giáo dục đại học của Nhật sau này.
Năm 1956, Cục Khoa học và Công nghệ được thành lập, và năm 1960 Hội đồng Khoa học và Công nghệ đề xuất một số chính sách để phát triển khoa học và công nghệ trong vòng 10 năm. Những đề nghị này trở thành định hướng phát triển và hoàn thiện hệ thống đại học cho đến ngày nay.
Ngày nay, Nhật có hơn 725 trường đại học và 518 trường cao đẳng. Chất lượng đào tạo đại học của Nhật được thế giới công nhận. Hiện nay, Nhật có 11 trường đại học được xếp vào hạng “top 200” trên thế giới, với Đại học Tokyo (hạng 19) và Kyoto (hạng 25). Trong thời gian 1997-2001, các nhà khoa học Nhật công bố khoảng 336,858 bài báo khoa học, chiếm 9,3% tổng số bài báo khoa học trên thế giới. Số ấn phẩm khoa học của Nhật đứng vào hàng thứ tư trên thế giới, chỉ sau Mỹ, Liên hiệp châu Âu, Anh và Đức
__________________________________________________________________________________
Điều kiện vào Cao đẳng, Đại học tại Nhật bản - Nếu
bạn không đủ một trong những điều kiện dưới đây thì sẽ không được tiếp
nhận vào đại học Nhật bản. 1, Đã hoàn thành chương trình đào tạo phổ
thông 12 năm ở nước mình.
Tu nghiệp sinh đi du học Nhật bản
Hằng năm, số lượng người đi “Tu Nghiệp Sinh” tại Nhật Bản ngày càng gia tăng. Nhật bản được biết đến là nước có nền kinh tế đứng thứ hai trên thế giới, để đáp ứng cho sự phát triển nên nhân lực là yếu tố hàng đầu mà các doanh nghiệp Nhật Bản hướng tới.
Hằng năm, số lượng người đi “Tu Nghiệp Sinh” tại Nhật Bản ngày càng gia tăng. Nhật bản được biết đến là nước có nền kinh tế đứng thứ hai trên thế giới, để đáp ứng cho sự phát triển nên nhân lực là yếu tố hàng đầu mà các doanh nghiệp Nhật Bản hướng tới.
HỒ SƠ DU HỌC NHẬT BẢN GỒM CÓ:
1. Giấy khai sinh (1 bản sao gốc)
2. Bằng THPT hoặc Trung cấp, CĐ, ĐH "nếu có'' (1 bản sao + gốc)
1. Giấy khai sinh (1 bản sao gốc)
2. Bằng THPT hoặc Trung cấp, CĐ, ĐH "nếu có'' (1 bản sao + gốc)
Tìm hiểu du học Nhật - Giáo
dục đào tạo là điều không thể thiếu của mỗi quốc gia, nhưng để có nền
giáo dục thật tốt và chuẩn mực thì cả thế giới chỉ tính trên đầu ngón
tay. Với nền giáo dục chúng ta hầu như đã đi sau hàng trăm năm so với
các nước phát triển như hiện nay.
Du học Nhật Bản tự túc
– hình thức đang được nhiều người quan tâm với nhiều ưu điểm đặc biệt
như chi phí du học thấp, khả năng kiếm thêm việc làm thêm thu nhập cao,
chương trình học chất lượng và môi trường học tập cạnh tranh. Liệu có
nên đầu tư như thế không?
Các loại visa Nhật bản
- Trường hợp ở Nhật quá 90 ngày hoặc làm những công việc với mục đích
sinh lợi, đề nghị trước hết phải xin giấy chứng nhận đủ tư cách lưu trú ở
Nhật Bản tại Cục quản lý xuất nhập cảnh địa phương Bộ tư pháp Nhật nơi
gần nhất
Du học sinh ở Nhật Bản có được đi làm thêm hay không ?
Sau khi được trường cũng như Phòng Xuất nhập cảnh địa phương gần nhất cho phép, du học sinh mới được phép đi làm thêm theo các điều kiện sau
Sau khi được trường cũng như Phòng Xuất nhập cảnh địa phương gần nhất cho phép, du học sinh mới được phép đi làm thêm theo các điều kiện sau
Chứng minh tài chính du học Nhật bản - Bạn
có điều kiện Kinh tế, bạn muốn thay đổi cuộc đời bạn, bạn muốn đi Du
Học? nhưng …? bạn không biết làm thế nào để chứng minh được khả năng
tài chính để cho cơ quan xét duyệt visa biết được khả năng tài chính của
mình và làm thế nào để đậu visa.
Du học Nhật bản du học sinh chú ý việc nên làm và không nên làm
- Cố gắng dùng natto (một dạng hạt đậu nành đã lên men). Trộn nó vào trong một ít mù tạt (wasabi), nước tương sau đó quấy đều lên ăn luôn hoặc rưới lên cơm. Khi bạn đã quen với cái mùi này thì nó thật sự là rất ngon.
- Cố gắng dùng natto (một dạng hạt đậu nành đã lên men). Trộn nó vào trong một ít mù tạt (wasabi), nước tương sau đó quấy đều lên ăn luôn hoặc rưới lên cơm. Khi bạn đã quen với cái mùi này thì nó thật sự là rất ngon.
BÀI VIẾT XEM NHIỀU:
- Đi xuất khẩu lao động hay đi du học tại Nhật bản
- Học và làm việc tại Nhật bản
- Thu nhập làm thêm của du học sinh tại Nhật bản
- So sánh việc làm tại Nhật Bản và Việt Nam
- Du học Nhật bản làm thêm thu nhập hấp dẫn
- Du học Nhật bản có rất nhiều việc làm thêm
- Tìm việc làm tại Nhật bản
- Nhật bản hủy bỏ thi tuyển đại học quốc gia
- Tìm hiểu du học Nhật bản
- Văn hóa Nhật bản trong việc tiếp khách
- Sẽ thay đổi việc cấp visa du học vào Nhật bản
- Trường tiếng Nhật YIEA ở Tokyo, Yokohama
- Trường tiếng Nhật Yokohama YDC ở Yokohama
- Trường tiếng Nhật Communica ở Kobe Nhật bản
- Trường Nhật ngữ Yono-Gakuin ở Saitama
- Trường tiếng Nhật IC Nagoya ở Nhật bản
- Trường tiếng Nhật Manabi ở Tokyo, Nagano, Nagoya
- Trường tiếng Nhật TOYO ở Sendai Nhật Bản
- Trường tiếng Nhật MCA ở Tokyo Nhật bản
- Trường tiếng Nhật JCOM ở Osaka Nhật bản
- Trường tiếng Nhật Meric ở Osaka Nhật bản
- Trường tiếng Nhật Asahi ở Tokyo Nhật bản
- Trường tiếng Nhật Minsai ở Kyoto Nhật bản
- Tư vấn du học Nhật bản
- Du học Nhật bản tự túc
- Du học Nhật bản lựa chọn của nhiều người
- Công ty tư vấn du học Nhật bản Hiền Quang
- Du học Nhật bản cùng Công Ty Hiền Quang
- Những điều cần biết khi du học Nhật bản
- Lời khuyên khi đi du học Nhật bản
- Hướng dẫn đi xe bus ở Nhật
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét